Ban hành danh mục và kế hoạch triển khai 55 nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực, vùng
Thực hiện nhiệm vụ được giao trong triển khai Nghị quyết số 71 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57 ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng, ban hành danh mục và kế hoạch triển khai 55 nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực, vùng. Danh mục là cơ sở để các bộ, ngành, địa phương tổ chức xây dựng, hoàn thiện và dùng chung nền tảng số từ Trung ương đến cấp cơ sở, góp phần tránh đầu tư trùng lặp, chồng chéo, lãng phí.
"Xây dựng danh mục, kế hoạch triển khai các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung (gọi tắt là nền tảng số dùng chung) của các ngành, lĩnh vực, vùng" là một trong những nhiệm vụ Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nhằm triển khai Nghị quyết số 71 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57 ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Thực hiện nhiệm vụ được phân công, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng và ban hành danh mục và kế hoạch triển khai 55 nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực, vùng; phục vụ các bộ, ngành, địa phương triển khai xây dựng, hoàn thiện và dùng chung nền tảng số từ Trung ương đến cấp cơ sở (cấp tỉnh và cấp xã nếu có nghiệp vụ đến cấp xã), qua đó góp phần hạn chế tình trạng đầu tư trùng lặp, chồng chéo, lãng phí.
Trong tổng số 55 nền tảng số dùng chung, có 13 nền tảng do Bộ Công an làm cơ quan chủ quản, gồm: Nền tảng định danh và xác thực điện tử; Cổng dữ liệu quốc gia; Nền tảng điện toán đám mây trong Trung tâm dữ liệu quốc gia; Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu của Trung tâm dữ liệu quốc gia; Hệ thống thư điện tử phục vụ tiếp nhận thông báo do cơ quan nhà nước gửi đến; Hệ thống quản lý đấu giá tài sản; Sàn dữ liệu; Nền tảng chuỗi khối (blockchain) quốc gia; Trợ lý ảo quốc gia; Trung tâm tính toán hiệu năng cao; Hệ thống từ điển dữ liệu dùng chung quốc gia; Nền tảng SOC quốc gia thế hệ mới; Hệ thống phòng vệ mạng quốc gia.
Mười nền tảng số dùng chung do Bộ Tài chính làm cơ quan chủ quản gồm: Nền tảng quản lý doanh nghiệp quốc gia (Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp); Nền tảng tài chính số quốc gia (Cơ sở dữ liệu tổng hợp về tài chính); Nền tảng quản lý số liệu, báo cáo tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp; Nền tảng thuế điện tử; Hệ thống công nghệ thông tin thực hiện hải quan số; Cổng thông tin một cửa quốc gia; Nền tảng quản lý dữ liệu thống kê; Nền tảng công khai ngân sách nhà nước; Nền tảng kế toán hành chính, sự nghiệp; Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
Năm nền tảng do Bộ Nội vụ làm cơ quan chủ quản gồm: Nền tảng quản lý cán bộ công chức, viên chức quốc gia; Nền tảng hợp đồng lao động điện tử; Sàn giao dịch việc làm quốc gia; Nền tảng quản lý lao động và việc làm; Nền tảng lưu trữ số quốc gia.
Năm nền tảng do Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan chủ quản gồm: Nền tảng thú y, sức khỏe động vật quốc gia; Nền tảng dữ liệu không gian địa lý quốc gia; Nền tảng quản lý trồng trọt và bảo vệ thực vật; Nền tảng quản lý vật nuôi, thức ăn chăn nuôi và dịch bệnh động vật; Nền tảng giám sát, phòng chống dịch bệnh động vật Vùng 1 - Vùng 7 chuyên ngành chăn nuôi và thú y.
Bốn nền tảng do Văn phòng Chính phủ làm cơ quan chủ quản gồm: Cổng Dịch vụ công quốc gia; Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi tình hình thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ; Trục liên thông văn bản quốc gia.
Bốn nền tảng do Bộ Khoa học và Công nghệ làm cơ quan chủ quản gồm: Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Cổng thông tin điện tử quốc gia.
Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là 5 bộ, cơ quan ngang bộ, mỗi đơn vị làm cơ quan chủ quản của 2 nền tảng số. Cụ thể: Bộ Ngoại giao chủ quản Nền tảng quản lý các điều ước và thỏa thuận quốc tế và nền tảng lãnh sự dùng chung của Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; Bộ Tư pháp chủ quản Cổng pháp luật quốc gia và nền tảng số pháp luật Việt Nam; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ quản Nền tảng quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa và nền tảng quản trị và kinh doanh du lịch; Thanh tra Chính phủ chủ quản nền tảng quản lý công tác khiếu nại tố cáo quốc gia và nền tảng số trong hoạt động thanh tra; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ quản Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng và hệ thống thông tin tín dụng quốc gia.
Bốn bộ gồm Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công Thương, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, mỗi đơn vị làm cơ quan chủ quản của 1 nền tảng số dùng chung, gồm: Nền tảng Sổ sức khỏe điện tử (Bộ Y tế); Nền tảng giáo dục quốc gia (Bộ Giáo dục và Đào tạo); Nền tảng quản lý thương mại và thị trường (Bộ Công Thương); Nền tảng dân tộc, tôn giáo (Bộ Dân tộc và Tôn giáo).
Cùng với việc đề xuất thời gian cần hoàn thành cho từng nền tảng số dùng chung, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng nêu rõ nhiệm vụ của cơ quan chủ quản nền tảng số, các cơ quan tại địa phương và vai trò hướng dẫn, đôn đốc của Cục Chuyển đổi số quốc gia.
Theo đó, cơ quan chủ quản nền tảng số dùng chung có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai chi tiết nền tảng số dùng chung và công bố rộng rãi để các bộ, ngành, địa phương chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ khai thác, sử dụng. Cơ quan chủ quản đồng thời khảo sát nhu cầu nghiệp vụ, người dùng tại các cơ quan Trung ương và địa phương; ban hành quy định về tính năng, chức năng, nghiệp vụ và phạm vi triển khai của nền tảng số dùng chung; xây dựng và công bố kiến trúc của nền tảng số; triển khai đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ công nghệ thông tin để xây dựng và vận hành nền tảng số dùng chung; xác định rõ phần việc của địa phương và cơ chế phối hợp trong quá trình triển khai xây dựng, vận hành.
Việc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành danh mục và kế hoạch triển khai 55 nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực, vùng là cơ sở để các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai dùng chung các nền tảng số từ Trung ương đến cấp cơ sở. Trên cơ sở danh mục Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành, cơ quan chủ quản nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung sẽ xây dựng kế hoạch triển khai chi tiết và công bố để các bộ, ngành, địa phương chủ động triển khai khai thác, sử dụng.
Nguyễn Thanh Dung