Luật Chuyển đổi số: Nhà nước trở thành "khách hàng lớn nhất" trong kỷ nguyên số

Với 433/442 đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Chuyển đổi số vào ngày 11/12/2025. Luật chính thức xác định Nhà nước là khách hàng lớn nhất của hoạt động chuyển đổi số, đồng thời thiết lập hành lang pháp lý thống nhất để đưa Việt Nam tiến tới trở thành quốc gia số.

Luật Chuyển đổi số có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định các nguyên tắc, chính sách và cơ chế điều phối trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động chuyển đổi số. Luật tập trung làm rõ ba trụ cột chính: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Các lĩnh vực như dữ liệu, giao dịch điện tử, an ninh mạng, viễn thông và trí tuệ nhân tạo tiếp tục được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành, nhưng phải bảo đảm thống nhất với các nguyên tắc của Luật này.

Tại họp báo thường kỳ tháng 12/2025, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh: trước đây, dù chuyển đổi số được đề cập rộng rãi, hệ thống pháp luật vẫn chưa xác định rõ khái niệm. Luật lần này đã lấp đầy khoảng trống đó, tạo cơ sở để Đảng và Nhà nước xây dựng các cơ chế hỗ trợ và ưu đãi phù hợp.

Thiết lập "Luật khung" hướng tới quốc gia số

Ông Trần Quốc Tuấn, Trưởng phòng Quản lý đầu tư, Cục Chuyển đổi số quốc gia, cho biết Luật Chuyển đổi số được định hình như một "luật khung" hay "luật cái ô". Trong bối cảnh Việt Nam đã có nhiều luật chuyên ngành như Luật Giao dịch điện tử, Luật Viễn thông, Luật An toàn thông tin mạng, luật mới đóng vai trò kết nối các mảnh ghép rời rạc thành một bức tranh tổng thể, đồng thời bổ sung các mảng còn thiếu như chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Với kết cấu 8 chương, 48 điều, Luật không lặp lại các quy định chuyên ngành mà tập trung vào nguyên tắc, chính sách và biện pháp bảo đảm. Các công cụ điều phối vĩ mô quan trọng được thiết lập gồm: Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và Khung quản trị dữ liệu. Về nguồn lực thực thi, Luật quy định dành tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hàng năm cho hoạt động chuyển đổi số. Ông Trần Quốc Tuấn đánh giá đây là cam kết chính trị mạnh mẽ, kèm theo các quy định về nhân lực số cũng được luật hóa lần đầu.


Nhà nước là khách hàng lớn nhất và tháo gỡ điểm nghẽn đầu tư

Một trong những định hướng lớn của Luật là xác lập Nhà nước là khách hàng lớn nhất của hoạt động chuyển đổi số, thông qua cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ, theo Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương.

Đặc biệt, Luật tháo gỡ điểm nghẽn lâu nay trong đầu tư công nghệ: cho phép thanh toán cho hoạt động thử nghiệm, điều trước đây chưa có tiền lệ. Theo ông Trần Quốc Tuấn, Luật cho phép áp dụng quy trình phát triển thử nghiệm đối với các hệ thống và hàng hóa chưa có sẵn trên thị trường, vốn rất khó xác định giá và đầu bài.

Về mặt công nghệ, Luật yêu cầu chuyển đổi nguyên tắc thiết kế: từ hệ thống công nghệ thông tin một chiều, bị động sang hệ thống số thông minh, chủ động phục vụ và gợi ý hỗ trợ người dùng.


Ba động lực lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt là SME

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, Luật tạo ra ba động lực chính.

Thứ nhất, cắt giảm chi phí tuân thủ thông qua tái cấu trúc thủ tục hành chính, triển khai thủ tục toàn trình và mặc định chia sẻ dữ liệu. Thứ hai, cơ chế thử nghiệm (Sandbox) cho phép vận hành các mô hình mới trong không gian có kiểm soát. Thứ ba, doanh nghiệp, đặc biệt là khối SME, được kết nối và khai thác các nền tảng số quốc gia do Nhà nước đầu tư.

Cơ chế này giúp doanh nghiệp "đứng trên vai người khổng lồ", tận dụng hạ tầng sẵn có thay vì tự xây dựng từ đầu. Ông Trần Quốc Tuấn nhận định những yếu tố này sẽ giúp Việt Nam hình thành thể chế số minh bạch, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho cả doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Nguyễn Thị Lan Anh

Bài viết mới nhất

DIGIFEST 2026 – “Phát triển Nền tảng số và Dịch vụ số, chuyển các hoạt động lên môi trường số”
Phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045