Ban hành cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 249/2025/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị định quy định cụ thể về tiêu chí, quy trình tuyển chọn, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm, đánh giá và các chính sách hỗ trợ đối với chuyên gia; đồng thời xác định rõ phạm vi áp dụng, đối tượng áp dụng và nguồn kinh phí thực hiện.
Theo thông tin được nêu, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 249/2025/NĐ-CP được đánh giá là một bước đi quan trọng nhằm tạo khung pháp lý thống nhất cho công tác thu hút trí thức chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Nghị định quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia theo hướng rõ ràng và toàn diện, bao gồm: tiêu chí, quy trình tuyển chọn, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm, đánh giá, cùng chính sách đối với chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Về phạm vi áp dụng, Nghị định nêu rõ không áp dụng đối với Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng quy định tại Nghị định số 231/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 của Chính phủ về tuyển chọn, sử dụng Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đồng thời không áp dụng đối với chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, Tổng công trình sư quy định tại Nghị định số 103/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định một số chính sách đối với cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt và chế độ, chính sách đối với người lao động trong cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt.
Về đối tượng áp dụng đối với cá nhân, Nghị định quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài đáp ứng tiêu chí chuyên gia theo Nghị định này có thể được đề cử, ứng cử, lựa chọn làm chuyên gia. Về phía tổ chức, Nghị định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương và địa phương, lực lượng vũ trang và doanh nghiệp được giao chủ trì thực hiện chương trình, nhiệm vụ, dự án khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Nghị định quy định tiêu chí tuyển chọn chuyên gia. Theo đó, chuyên gia là người có kiến thức, trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu trong một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; có tham gia hoặc chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên các ngành công nghệ chiến lược trong danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược do cấp có thẩm quyền ban hành; có đóng góp thiết thực cho sự phát triển của quốc gia, khu vực và quốc tế; có lý lịch rõ ràng, đạo đức tốt và mong muốn cống hiến cho sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Việt Nam.
Ngoài tiêu chí chung, Nghị định nêu rõ các tiêu chí cụ thể, theo đó chuyên gia đáp ứng một trong các tiêu chí như: là tác giả hoặc đồng tác giả sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được ứng dụng, chuyển giao tạo ra sản phẩm có giá trị thực tiễn; hoặc có chuyên môn sâu, giàu kinh nghiệm trong ngành, lĩnh vực phù hợp với nhiệm vụ thực hiện tại Việt Nam và đang công tác tại bộ phận nghiên cứu của viện nghiên cứu, trường đại học hoặc doanh nghiệp uy tín ở nước ngoài. Nghị định cũng quy định trường hợp là tác giả hoặc đồng tác giả công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ xuất sắc đã đạt giải thưởng quốc tế hoặc đã được ứng dụng rộng rãi mang lại hiệu quả thiết thực và phù hợp với chương trình, nhiệm vụ, dự án dự kiến tham gia.
Bên cạnh đó, tiêu chí còn bao gồm: có bằng tiến sĩ từ các trường đại học trong nhóm 200 đại học hàng đầu thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín và có thời gian tối thiểu 5 năm giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ tại cơ sở nghiên cứu, đào tạo có uy tín ở nước ngoài thuộc chuyên ngành phù hợp với chương trình, nhiệm vụ, dự án dự kiến tham gia; hoặc có bằng tiến sĩ và đã có ít nhất 5 năm làm việc tại vị trí nghiên cứu khoa học trong chương trình, dự án hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ hoặc trong bộ phận nghiên cứu của doanh nghiệp có uy tín ở nước ngoài; có tối thiểu 10 bài báo quốc tế đăng trên các tạp chí danh tiếng hoặc là thành viên hội đồng khoa học của các tạp chí uy tín hoặc tham gia hướng dẫn thành công ít nhất 2 nghiên cứu sinh tiến sĩ.
Về quyền và nghĩa vụ, chuyên gia có quyền và nghĩa vụ của cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Điều 51 và Điều 52 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Căn cứ yêu cầu của vị trí được giao, chuyên gia có thể được ghi nhận thêm một số quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng lao động, như: quyết định vấn đề kỹ thuật, công nghệ và giải quyết vướng mắc kỹ thuật trong phạm vi nhiệm vụ; chủ động lựa chọn, đề xuất điều động nhân lực khoa học, công nghệ và tổ chức khoa học, công nghệ tham gia nhiệm vụ; chủ động quyết định sử dụng kinh phí, nguồn lực được giao, bao gồm việc sử dụng kinh phí để mua trực tiếp công nghệ, sản phẩm, thiết bị nước ngoài cần thiết, bí quyết công nghệ với giá thỏa thuận; được tạo điều kiện, hỗ trợ kinh phí khảo sát, trao đổi khoa học với nhà khoa học nước ngoài để cập nhật công nghệ mới.
Về chế độ đãi ngộ, tiền lương được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, bảo đảm tương xứng với nhiệm vụ và phù hợp mặt bằng tiền lương của lĩnh vực tương ứng trên thị trường lao động. Tiền thưởng hằng năm do cơ quan, tổ chức, đơn vị chủ trì chương trình, nhiệm vụ, dự án quyết định trên cơ sở kết quả đánh giá, tối đa 4 tháng tiền lương ghi trong hợp đồng lao động. Tiền thưởng từ việc cho thuê, bán, chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng, tự khai thác, sử dụng kết quả nhiệm vụ hoặc khi góp vốn, hợp tác, liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ hoặc thành lập doanh nghiệp được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 28 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Chuyên gia còn được hỗ trợ ban đầu 1 tháng lương ghi trong hợp đồng để ổn định chỗ ở, di chuyển, mua sắm thiết yếu; được hỗ trợ tiền thuê nhà, phương tiện đi lại hoặc được cung cấp căn hộ tiêu chuẩn, phương tiện đi lại trong thời gian làm chuyên gia; được chi trả kinh phí đi nghiên cứu, trao đổi khoa học ở nước ngoài khi được cơ quan chủ trì chương trình, nhiệm vụ, dự án yêu cầu.
Sau khi kết thúc và hoàn thành nhiệm vụ, chuyên gia là người nước ngoài nếu có nguyện vọng được giảm điều kiện khi xem xét cho nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật. Với chuyên gia có quốc tịch Việt Nam có nhu cầu vào làm công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội nhưng chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức, cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định tiếp nhận vào vị trí việc làm; đồng thời được xem xét bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý mà không nhất thiết đáp ứng điều kiện về độ tuổi, chức danh quy hoạch, trình độ lý luận chính trị, thời gian giữ chức vụ liền kề.
Về nguồn lực thực hiện, kinh phí chi trả chế độ, chính sách theo Nghị định được bố trí trong kinh phí thực hiện chương trình, nhiệm vụ, dự án khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị định cũng phân công rõ trách nhiệm của các bộ, cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong tổ chức triển khai.
Việc ban hành Nghị định số 249/2025/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho công tác thu hút nhân lực chất lượng cao. Nghị định quy định cụ thể tiêu chí, quy trình tuyển chọn và các chính sách hỗ trợ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện và nguồn kinh phí triển khai.
Nguyễn Thanh Dung